tháng 1 2016


Đi họp phụ huynh, trong lớp có dòng chữ “Thầy ra thầy, trò ra trò”.  So với các thành ngữ, tục ngữ về thầy trò như : “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” hay “tiên học lễ, hậu học văn”, câu này có vẻ thẳng thừng, đơn giản.  Như một khẩu hiệu, đúng rất đương nhiên và đương nhiên chính xác. Thầy không ra thầy thì ra cái gì ?. Cũng như  trò không ra trò tất nhiên không phải là trò. Ở một nền giáo dục bình thường, trật tự, kỷ cương có lẽ không cần phải treo khẩu hiệu này làm gì ? . Nhưng khi ở một môi trường lý ra phải thật trong lành như môi trường học đường lại xuất hiện ngày càng nhiều những vấn đề dơ bẩn, khẩu hiệu này phải được phóng lớn, hô to thêm nữa để có thể cảnh tỉnh những ai có hành vi phá vỡ quan hệ, đạo đức thầy trò.
Hiệu trưởng mua bán dâm học sinh, thầy hiếp dâm học sinh, thầy gạ tình, trò đánh thầy, đánh cô gãy răng, nhập viện. … Gõ trên google vài dòngtrên, một mớ thông tin hỗn độn hiện ra, như những vết nhơ trên tấm vải trắng.  Đành rằng chỉ là vụ việc riêng lẻ, những cá nhân, những con sâu làm rầu nồi canh. Nhưng trong nồi canh giáo dục, một con sâu cũng khó có thể chấp nhận, có khi phải đổ nguyên nồi, huống hồ lúc này sâu hơi nhiều. Môi trường ô nhiễm là nguyên nhân sâu bệnh xuất hiện. Từ đâu lại có những người thầy không ra thầy, trò không ra trò.
Cách đây vài thập niên, ở trường trung học Petrus Trương Vĩnh Ký (nay là trường PTTH chuyên Lê Hồng Phong) có một hành lang được đặt tên là “hành lang danh dự”. Chỉ có thầy cô mới được sử dụng, học sinh tuyệt đối không dám bén mảng. Học sinh có chỗ của học sinh : các hành làng ở khu lớp học. Mỗi đầu giờ các thầy cô từ phòng giáo sư (trước 1975 giáo viên dạy trung học gọi là giáo sư) đi qua hành lang danh dự tỏa về các lớp. Học sinh từng lớp xếp hàng ngay ngắn, đứng im chờ thầy cô đến cho vào lớp. Trang phục thầy cô, đồng phục, tác phong đầu tóc, giày của học sinh đều được qui định chặt chẽ. Học sinh chỉ lo học và học. Thầy cô chỉ lo dạy và dạy. Suốt mấy năm học tại trường, không hề thấy có vụ nào bắt học sinh phải cho điểm, đánh giá thầy cô, cũng không thấy thầy cô nào mở lớp dạy thêm. Học sinh thấy thầy cô bất cứ nơi đâu, trong sân, trước cổng trường, có khi ở ngòai đường đều cúi đầu chào cung kính. Đứa nào nhút nhát, vừa thấy bóng thầy cô là …né. Ngán lắm. Một khoảng cách rất rõ giữa thầy và trò. Khoảng cách đó có thể gần hơn khi trò ra trường. Trò về thăm thầy ở trường cũ, tay bắt mặt mừng, hoặc đến tận nhà thăm thầy cô về hưu có thể trà nước, có thể nhậu nhưng vẫn còn đó một khoảng cách muôn đời : sự tôn sư trọng đạo, thầy ra thầy trò ra trò.

Sau này cái hành lang danh dự được đổi tên thành “hành lang giữa”. Và có một thời khi lên lớp, thầy bỏ áo ra ngoài quần, mang dép.  May thay, các cô vẫn còn giữ trang phục áo dài. Cái hành lang giữa giờ đã tràn lan bóng học sinh, thầy cô lẫn lộn. Có những cuộc họp, thầy trò ngồi ngang hàng, trò gọi thầy cô là “đồng chí” , và thẳng thắng phê bình các “đồng chí” thầy cô rất nhiệt tình. Nhớ rất rõ, năm học lớp 8, có cô giáo đã lớn tuổi, nổi tiếng dạy  giỏi, nghiêm khắc (xin được không nêu tên cô) vào lớp với vẻ mặt buồn bả, đôi mắt cô ướt đỏ, bần thần vài phút cô mới buột miệng :
-  Trong cuộc họp, nó không kêu cô bằng cô mà kêu bằng “đồng chí”, phê bình đồng chí phải có tính dân chủ, tính hòa đồng với học sinh.
Chà! lúc đó nhỏ quá không thấm nỗi cay đắng của cô. Tên trò phê bình cô là học sinh lớp 12 nào đó, không biết hắn giữ chức vụ nào mà lại họp chung với thấy cô và phát biểu như  vậy. Không hiểu tính dân chủ, sự hòa đồng giữa thầy và trò phải thể hiện như thế nào cho phải đây hỡi “đồng chí” trò ? . Và không hiểu có phải từ đó khoảng cách “thiêng liêng” giữa thầy và trò hình như bị xâm phạm?.  Đến khi khoảng cách đó bị rút ngắn, không còn trong phạm vi an toàn nghĩa là thầy sẽ không còn là thầy, trò không còn là trò.
Hiện nay, ngành giáo dục đang cố kéo cái khoảng cách giữa thầy và trò trở về mức cần phải có. Hy vọng sẽ làm được để không còn có những cảnh : thầy trò kéo nhau ra quán mặc cả tình, tiền đem đổi điểm ; học ở trường thi ở quán, trò đánh thầy cô lên bờ xuống ruộng. Thầy ra thầy – Trò ra trò, mong lắm thay.

Tiến Bình
Lang Thang Sài Gòn


Từ ngàn xưa trong nho giáo của đức Khổng Tử đã có thuyết chính danh. Để hiểu một cách sâu sắc chỉ với hai từ chính danh, cần phải có thời gian để học, để chiêm nghiệm. Nhưng cũng có thể hiểu chính danh nhanh chóng, đơn giản :
Chánh: Ngay thẳng, đúng đắn . Danh: tên.
Chính danh là cái tên gọi phải đúng theo cái nghĩa của nó.
Với thuyết chính danh, đức Khổng Tử giải thích rõ : “Vua ra vua, tôi ra tôi, cha ra cha, con ra con”. Ngài diễn giải thêm, trong một xã hội thịnh trị, có những đẳng cấp xã hội, bổn phận của mỗi người đều phải phân định một cách rạch ròi, trình độ tri thức của mỗi người phải tương xứng với công việc đảm nhận. Tri chi vi tri chi, bất tri vi bất tri. Thị tri dã,  có nghĩa : hiểu biết là hiểu, không hiểu biết không hiểu, vậy đã là hiểu rồi vậy.
Căn cứ theo thuyết chính danh, việc sử dụng người trong bộ máy từ nhà nước, doanh nghiệp, các tổ chức xã hội …. và việc đào tạo còn nhiều chuyện phải bàn. Vấn đề này có liên quan đến vụ phân biệt đối xử giữa người học đại học dân lập, tư thục và đại học công lập hay giữa hệ chính quy và tại chức đã gây nhiều tranh cãi. Chuyện công lập, dân lập hay tư thục không dám đề cập vì thât sự không hiểu hết chất lượng đào tạo của các trường. Chỉ dám nói đến chuyện chính qui, tại chức, chuyên tu …
Trước đây, sau chiến tranh, do hoàn cảnh lịch sử, có những người có thành tích trong kháng chiến, chiến đấu trên chiến trường, hay có lý lịch "cơ bản, rõ ràng"  v..v…  được bố trí, bổ nhiệm ở các vị trí lãnh đạo, vị trí chủ chốt ở chính quyền, đơn vị kinh tế … dù họ chưa hề qua một trường lớp nào, chưa có một khái niệm nào về lãnh đạo, về quản lý. Thời đó, báo chí còn thông tin, sau khi thống kê, biết được có 3 vị chủ tịch xã mù chữ (chẳng hiểu mấy vị này phải ký tên như thế nào, chẳng lẽ ký chữ thập +). Vì vậy chỉ sau một thời gian ngắn hậu quả của việc bố trí cán bộ không chính danh đã bộc lộ. Chỉ cần nhớ cuộc sống khó khăn thời bao cấp, thời ngăn sông cấm chợ, cách ứng xử của một số cán bộ thiếu văn hóa với dân,  hay chứng kiến hàng loạt doanh nghiệp nhà nước, đơn vị kinh tế thua lỗ … cũng đủ thấy trình độ cán bộ không tương xứng với chức phận đã gây hậu quả như thế nào. Do đó mới có chuyện chuẩn hóa cán bộ hay còn có thể nói “chính danh hóa” việc bố trí, bổ nhiệm cán bộ.  Và trong giáo dục đại học mới xuất hiện hệ tại chức, chuyên tu … để làm cái công việc “chính danh hóa” , với hai chữ “tại chức” cũng đủ hiểu nguồn gốc ra đời của hệ này. Với nhiệm vụ cực kỳ cao cả là “chính danh hóa” trình độ cán bộ, trước tiên bộ phận phụ trách đào tạo tại chức ở các trường đại học phải chính danh, có khi còn phải nghiêm túc hơn hệ chính quy. Nhưng rất tiếc, sau nhiều năm, hệ tại chức nói chung cũng không thể làm tròn nhiệm vụ. Có nhiều lý giải cho nhận định  “dốt chuyên tu, ngu tại chức”, nhưng có lẽ nguyên nhân chính từ việc tổ chức đào tạo và kiểu đi học của những sinh viên đang tại chức. Kiểu học cho có … bằng cấp để bổ sung hồ sơ, để đáp ứng thời chuẩn hóa cán bộ bất chấp chất lượng học tập từ nhiều năm qua là hậu quả của việc bị đối xử như hiện nay.
Tóm lại ngay từ đầu việc bố trí cán bộ đã có lúc có nơi không chính danh. Để khắc phục, mới nảy sinh chuyện tại chức, chuyên tu, nhưng trong cách làm cũng thiếu chính danh. Do đó đến nay, không biết trong xã hội tồn tại bao nhiêu cử nhân, tiến sĩ … không chính danh và bao nhiêu cán bộ đảm nhiệm chức vụ, vị trí quá tầm so với trình độ của mình. Theo dõi thông tin liên quan trên báo chí đã thấy hậu quả đang dần bộc lộ rất rõ, mà không những cá nhân của người tốt nghiệp hệ tại chức (dù ở hệ này có nhiều người thật sự học hành đàng hoàng và có trình độ) mà cả xã hội đang lãnh đủ.
Tiến Bình
Lang Thang Sài Gòn

Trong xã hội con người, đụng đến  những chuyện nhỏ nhặt, không đáng quan tâm, không “ảnh hưởng đến hòa bình thế giới”, người ta hay chép miệng : “Ối ! chuyện chó mèo” . Lúc trước trên báo chí Sàigòn có mấy tờ báo còn đặt tên cho cái mục tin vắn linh tinh liên quan đến cá nhân như tình, tiền, tù, tội, tự tử … hàng ngày là “tin xe cán chó”. Một con chó dù là chó bình dân hay chó thượng lưu cũng là chó, xe có cán banh xác cũng là chuyện “xe cán chó”, cái xác chó cũng chỉ để làm mồi cho mấy ông ghiền thịt cầy. Vậy thôi ! Vì đây là ở Việt Nam, con chó cũng  chỉ là con … cẩu, không phải ở Mỹ, số phận của mấy con dog ngon hơn nhiều.

Ảnh minh họa từ internet

Không biết có phải vậy không mà mấy cái vụ trộm chó từ Bắc vô Nam lúc đầu chẳng có cơ quan pháp luật nào thèm để ý . Ai bị mất chó ráng chịu. Có bỏ công bắt được giải lên xã, phường, kẻ trộm cũng được thả ngay trong ngày, chỉ cảnh cáo, phạt hành chính, chứ luật nào mà xử tù chuyện “trộm chó, bắt mèo” và cũng vì có  quan điểm cho rằng "giá trị một con chó không đáng để bỏ tù một con người”  Nhưng giá trị một con chó chưa chắc là không lớn, như mấy loại chó kiểng, chó quý, giá lên đến hàng triệu… Còn  nếu đem hoàn cảnh ra để so sánh như cái ổ chó trong nhà nghèo cỡ như nhà chị Dậu (trong tác phẩm Tắt Đèn của nhà văn Ngô Tất Tố) là cả một gia tài, chưa nói tới chuyện nặng tình nặng nghĩa với chủ thì vô giá…nhưng với pháp luật chó vẫn là …cẩu, vẫn không đáng giam kẻ trộm chó.  Do vậy hành vi trộm chó không được pháp luật xem như tội hình sự  để xử phạt răn đe đúng mức, đây có thể là nguyên nhân những kẻ  trộm chó ngày càng táo tợn, lộng hành. Ban đầu là đánh bã, câu trộm sau đó chủ động tấn công chủ chó bằng súng, gậy, dao … để cướp, giành, giật cho được …. một con chó. Đã có người chết, người bị thương. Chuyện con chó không còn là chuyện nhỏ, từ chuyện con chó đã làm cho quan hệ giữa người và người trở nên ghê gớm đến mức “đối xử với nhau tệ hơn chó” . Vây bắt được kẻ trộm chó, biết rằng có giao cho pháp luật cũng không ăn thua, cả làng đánh chết, đốt xác, đốt xe. Tàn nhẫn hơn nữa, người dân không cho thân nhân kẻ trộm đưa hắn đi cấp cứu vì trước đó hắn đã tấn công làm bị thương một người trong làng, họ buộc phải bồi thường .. . và chuyện trộm chó cứ tiếp tục, một cán bộ bị kẻ trộm bắn chết, kẻ trộm tiếp tục bị dân vây đánh chết ... Kẻ phạm tội bị nạn nhân đập chết, nạn nhân thành kẻ phạm tội giết người. Vì đâu nên nỗi ? Nếu các cơ quan làm luật, cơ quan thi hành pháp luật và chính quyền địa phương cảm nhận và dự đoán được bức xúc của người dân, xem chuyện trộm chó không là chuyện vặt cùa làng xóm, có lẽ sẽ không xảy ra những sự việc kinh hoàng như vậy. Hình như luật pháp lúc nào cũng đi sau, không bắt kịp với đời.

“Tội ác như hòn tuyết lăn, nếu không ngăn nó, càng lăn nó sẽ càng lớn, lớn mãi cho đến lúc không dễ dàng để phá vỡ”

Không biết câu này của ai, chỉ nhớ được trong vở kịch “Kẻ đốt đền” do nhà hát Tuổi Trẻ diễn cách nay vài chục năm, một viên quan coi ngục đã phải nhắc đi nhắc lại vì kẻ đốt đền dù bị giam vẫn cứ lợi dụng sự bất lực của luật pháp để gây thêm tội ác.

Có nhiều hành vi phạm tội tưởng chừng vặt vảnh tương tự trộm chó : móc túi trên xe buýt; rạch giỏ trong bệnh viện, chợ búa; “thu hụi chết” người bán hàng rong … diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong thời gian dài vẫn chưa có cách nào trị. Trị sao nổi khi bắt kẻ phạm tội cứ như cóc bỏ dĩa, bắt vào lại thả ra. Đã có nhiều trường hợp kẻ móc túi trên xe buýt bị bắt, hôm sau được thả ra lập tức kiếm người trả thù. Luật pháp máy móc, lạnh lùng cứ áp cái barem giá trị của tang vật để xử lý, không quá vài trăm ngàn là … thả . Hậu quả là người dân đi đâu cũng gặp tội phạm, móc túi, trộm cắp đầy dẫy. Còn ai dám bắt chúng? Việc phát hiện, bắt giữ không quá khó, phức tạp hay thiếu nhân lực như một vài quan chức biện minh. Quan trọng là quan điểm của luật pháp trong xử lý như thế nào để hạn chế tái phạm? Không có biện pháp ngăn chặn hiệu quả, khoảng cách từ trộm cắp vặt vãnh, riêng lẻ đến giật dọc, cướp của giết người có tổ chức, lập băng đảng trấn lột, bảo kê chỉ  là một bước chân. Chuyện tham nhũng cũng vậy thôi, dù là tham nhũng vặt từ cái phong bì trong bệnh viện, dấm dúi nơi cửa công, kẹp nhét ngoài đường phố … và cũng vì giá trị quá ít (!) chỉ vài chục, vài trăm ngàn, không đáng gọi là tham nhũng để xử lý, hậu quả là người dân bị làm khó, cứ phải “móc” và “nhét” để được việc, tham nhũng tràn lan, cấu kết thành hệ thống. Nay có lẽ “hòn tuyết tham nhũng” lớn và cứng đến nỗi có khi tàu phá băng cũng chẳng làm gì được !

Tội phạm, tham nhũng dù vặt vãnh nhưng nhiều, như đàn châu chấu không trị được, người dân làm ăn, ra đường, cả lúc đi viện cứ như ra trận, phải căng thẳng đối phó từng giờ.  Mặt ao im lìm, phẳng lặng, nhưng thử thả một miếng mồi xuống, đàn cá từ đâu trồi lên khuấy động, tăm bọt sủi lên cả góc ao. Đường phố xe cộ xuôi ngược tưởng như yên bình, nhưng thử đi xe xịn hay đeo laptop, giỏ xách, hoặc ngừng xe nghe điện thoại thì coi chừng, tội phạm trồi lên như đàn cá (so sánh như vầy cũng tội cho lũ cá, nhưng dễ hình dung).  Một gia đình anh nông dân lên thành phố để trị bệnh, vừa vào bệnh viện là bị kẻ gian rạch giỏ lấy hết tiền, trong quá trình nằm  viện anh phải tiếp tục vay mượn để điều trị và móc hầu bao ít ỏi  của mình nhét vào phong bì dấm dúi mua sự đối xử tử tế  … đó chỉ là một trường hợp điển hình người dân bị một cổ hai tròng : trộm cắp và tham nhũng. Với tình hình xã hội như vậy, người dân dễ … “nổi điên” , có thể sẽ không manh động giết người, đốt xác như mấy vụ trộm chó ngoài Bắc, nhưng lòng tin ở luật pháp, ở chính quyền chắc chắn bị sụt giảm nghiêm trọng. Làm gì để người dân không phải lúc nào cũng lo lắng, sợ hãi, có thể sống trong một môi trường an toàn, thoài mái, ung dung tự tại,  cho đáng một kiếp người,  đó là trách nhiệm của những ai đang có trách nhiệm. Có nhiều nguyên nhân để tội phạm và tham nhũng phát triển, một trong những nguyên nhân đó là  hạn chế của các cơ quan pháp luật  đã đánh giá thấp, không xử lý đến nơi, đến chốn những loại tội phạm tưởng như là vặt vãnh.

Tiến Bình
Lang Thang Sài Gòn

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.