tháng 3 2018

Tại sao người dân “Sài Gòn – Chợ Lớn” xưa có thời gian gọi là Dân Chơi “Cầu Ba Cẳng”, giai thoại về một Dân chơi Cầu Ba cẳng xưa : Mã Ban.
__________________________
Trước năm 1975, cao bồi du đãng lộng hành khắp Sài Gòn – Chợ Lớn, riêng dân chơi cầu Ba Cẳng (gần chợ Kim Biên ) vừa có máu du đãng vừa ăn chơi theo kiểu tài tử, hào hoa. Dân chơi cầu Ba Cẳng còn hay tỏ ra điệu nghệ hào phóng đúng điệu “anh Hai Sài Gòn” với mọi người. Và đám dân chơi cầu Ba Cẳng đồng lòng “tôn” Mã Ban làm đàn anh với tất cả sự tôn kính, một A xẩm Tiều nán (người Triều Châu) ở gần chợ Lớn mới (chợ Bình Tây, quận 6-TP.HCM ngày nay) góa bụa giữa lúc nửa chừng xuân. A xẩm đi nấu ăn cho nhà giàu kiếm tiền nuôi đứa con trai lớn tên Mã Ban ăn học. Thiếu niên Mã Ban học tiểu học rồi trung học dành cho học sinh người Hoa ở Chợ Lớn.
==>
Tuy nhiên, thay vì học hành chăm chỉ thì Mã Ban lại lao vào ăn chơi hoang đàng khiến cho người mẹ nghèo rất buồn khổ. Thương mẹ, sau này Mã Ban quyết định tự lập kiếm tiền để ăn chơi, thời đó, các tiệm buôn, nhà hàng, tiệm nước, quán ăn của người Hoa ở Chợ Lớn thường bị cao bồi du đãng quấy nhiễu. Cả đám du đãng hùng hổ kéo vào tiệm giải khát, ra oai la lối nạt nộ gọi cà phê, hủ tiếu. Hầu sáng (chạy bàn) thấy vẻ mặt nhóm du đãng nên khiếp sợ khúm núm, run rẩy dạ lia lịa. Sau đó, hầu sáng tức tốc bưng cà phê, hủ tiếu, bánh bao, xíu mại dọn ra bàn cho đám du đãng hẩu xực (ăn ngon). Đám du đãng vừa ăn uống vừa văng tục, chửi thề ỏm tỏi.

Nhận thấy sắp xảy ra chuyện chẳng lành, thực khách vội vã bỏ hết ra khỏi tiệm, đám du đãng ăn uống no nê rồi ngoắc chủ tiệm lại bàn ngỏ lời thiếu chịu chầu ăn uống. Một tên du đãng vẻ mặt có cô hồn nhất đám vỗ mạnh vai chủ tiệm nước gầm sụm bà chè “hỏi mượn ít tiền xài đỡ”. Chủ tiệm biết mình bị du đãng “bắt địa” (làm tiền) nhưng vì thân cô thế cô nên lật đật trở vào quay kéo hộc tủ rồi mang đủ tiền dâng cho du đãng. Chủ tiệm tỏ ra dễ thương biết điều vì cãi lệnh đám du đãng nộ khí xung thiên đập phá tiệm giải khát tan nát.
Đám du đãng hung tợn lần lượt kéo vào tiệm nước này tới tiệm nước khác ở Chợ Lớn để ăn uống quỵt và bắt địa. Các chủ tiệm giải khát sợ oai du đãng nên im thin thít không dám thưa với cảnh sát vì sợ bị trả thù thảm khốc. Một số tên du đãng khác ở Chợ Lớn hay quấy nhiễu tiệm buôn của chủ kinh doanh người Hoa.
Chúng mặc áo phanh ngực để lộ dây chuyền dài lủng lẳng mặt hình đầu lâu sau hai khúc xương chéo, dao bấm nhọn hoắt lấp ló ở thắt lưng đằng đằng sát khí đứng dàn ngang trước tiệm buôn phì phèo thuốc lá tỏa khói mù mịt. Nhác thấy đám du côn, chẳng người khách nào dám bước chân qua cửa tiệm. Chủ tiệm buôn người Hoa chịu không thấu đành xuống nước năn nỉ điều đình với đám du đãng hung hãn.
Tên đầu sỏ ra giá “bắt địa”, khổ chủ đành riu ríu vào quay kéo hộc tủ mang đủ tiền khúm núm dâng cho đám du đãng xài chơi. Có như vậy, chủ tiệm buôn mới được yên ổn buôn bán, nhờ “bắt địa” được nhiều khổ chủ nên đám du đãng ăn chơi xả láng.
Trong một lần ngồi uống cà phê trong tiệm giải khát, Mã Ban tình cờ nhận thấy đám du đãng kéo vào tiệm giở trò ăn quỵt rồi “bắt địa” chủ tiệm. Thực khách vội kéo nhau bỏ ra ngoài chỉ còn lại một mình Mã Ban. Trầm tĩnh, Mã Ban khéo léo theo dõi từng động thái của đám du đãng đợi khi tên đầu sỏ mở lời “bắt địa” chủ tiệm liền ra tay nghĩa hiệp … Mã Ban lập tức rời bàn tiến sát đám du đãng rồi ân cần khoác vai chủ tiệm giải khát bảo không nên dâng tiền.
Bị người khác can dự vào chuyện riêng tư, đám du đãng nộ khí xung thiên cầm ghế đẩu nghênh chiến. Mã Ban bình tĩnh xuống tấn thủ thế rồi xuất những chiêu võ Thiếu Lâm Tự tả xung hữu đột đánh tan tác đám du đãng. Đám đông hiếu kỳ bu xem trận cao thủ hạ gục nhiều đối thủ đồng loạt vỗ tay hoan hô Mã Ban. Đám du đãng bị trận đòn đau cuống cuồng bỏ chạy. Chủ tiệm giải khát vội báo đáp ơn “hiệp sĩ” bảo hầu sáng dọn cà phê, hủ tiếu, bánh bao, xíu mại ra đãi Mã Ban.
Nhiều người ái mộ vây quanh “hiệp sĩ” Mã Ban vừa ra tay trừ gian diệt bạo ,tin vui dân chơi cầu Ba Cẳng Mã Ban trừng trị thích đáng đám du đãng quấy nhiễu tiệm nước lan nhanh trong giới làm ăn ở Chợ Lớn. Chủ nghiệp người Hoa hoan hỉ. Sau đó, tiệm buôn nào ở Chợ Lớn bị đám du đãng quấy nhiễu nhằm “bắt địa”, chủ tiệm lập tức sai người chạy báo tin cho Mã Ban. Khi “hiệp sĩ” Mã Ban to cao gần 1,8 mét, vẻ mặt lạnh như tiền xuất hiện, đám du đãng tự động rút lui có trật tự, trả lại sự yên bình cho tiệm buôn. Nhờ sự “nghĩa hiệp” của Mã Ban, kể từ đó, đám du đãng không dám lộng hành tác oai tác quái như trước nữa. Sau sự kiện này, Mã Ban được toàn thể dân chơi cầu Ba Cẳng tôn là đàn anh. Các chủ tiệm buôn, tiệm nước, quán ăn, nhà hàng người Hoa ở Chợ Lớn đều “lì xì” cho Mã Ban.
Có tiền, Mã Ban ăn nhậu, nhảy đầm, bao gái thả phanh. Đàn em của Mã Ban cũng được tháp tùng đàn anh trong nhiều cuộc vui gần như bất tận. Danh tiếng Mã Ban nghĩa hiệp, tài tử, hào phóng, điệu nghệ, chịu chơi nổi như cồn ở Chợ Lớn, khiến toàn thể cao bồi du đãng nể mặt đàn anh đám dân chơi cầu Ba Cẳng.
Nghe “danh tiếng” của Mã Ban, một nghiệp chủ người Hoa giàu có ở Chợ Lớn đã gả con gái cưng cho Mã Ban. Mã Ban được cha vợ thương yêu cưng chiều, chu cấp nhiều tiền nên sắm xe Vespa Sprint màu xám bạc mới cáu cạnh. Trong cốp xe, lúc nào cũng thủ sẵn hai chai rượu Tây Martell cổ lùn đắt tiền dành thiết đãi bạn bè. Nhằm giúp Mã Ban trốn quân dịch, người cha vợ lắm tiền nhiều của của Mã Ban đã đút lót cho viên chức cao cấp để Mã Ban trở thành cảnh sát viên của Tổng nha cảnh sát, suốt ngày, Mã Ban mặc đồ xi vin (thường phục) bỏ túi thẻ hành sự cảnh sát, lận súng ru lô, chạy xe Vespa Sprint chở người yêu dạo phố. Mã Ban cặp kè người yêu vào bất cứ tiệm nước, quán ăn, nhà hàng nào của người Hoa ở Chợ Lớn đều được thiết đãi ăn uống no nê miễn phí, ban đêm, Mã Ban vào vũ trường Melody hoặc Arc en ciel Chợ Lớn dìu vũ nữ đi những bước nhảy lả lướt trong tiếng nhạc du dương.
Toàn thể cao bồi du đãng ở Chợ Lớn biết tiếng Mã Ban giỏi võ Thiếu Lâm Tự lại có thêm “chó lửa” (súng ru lô) nên khiếp sợ. Bất cứ tên du đãng nào ở Chợ Lớn hễ trên đường tình cờ gặp Mã Ban đều khoanh tay, cúi đầu lễ phép “thưa đại ca!” … vợ Mã Ban mắn đẻ liền liền. Con gái đầu lòng tên Mã Mai, con gái kế tên Mã Lan, con trai kế tên Mã Tài, con gái kế tên Mã Cúc. Con trai út được đặt tên là Mã Xái. Chuyện cơm áo gạo tiền đã có gia đình vợ chu toàn nên Mã Ban thong thả đi tìm niềm vui gần như bất tận trong những cuộc ăn chơi thâu đêm suốt sáng.
Sau ngày giải phóng, Mã Ban trở về với vợ con. Chính quyền Cách mạng lập danh sách đen lùng bắt sạch phần tử bất hảo đưa đi tập trung cải tạo. Vì Mã Ban không có thành tích bất hảo nên sống đàng hoàng trong chế độ mới.
Năm 1984, Mã Ban gom hết vốn liếng mở quán ăn ở Chợ Lớn. Dân ăn nhậu phong lưu kéo tới ủng hộ Mã Ban. Ông chủ quán Mã Ban hào phóng cho nhiều tay ăn nhậu nợ tiền tiệc nhậu riết rồi lỗ vốn đành dẹp quán. Mã Ban trở về gia đình suốt ngày nằm lim dim trên ghế dựa. Nhiều lần Mã Ban nổi máu du đãng với viên chủ tịch phường sở tại hay hống hách. Viên chủ tịch hay tỏ ra quan cách phải khiếp vía Mã Ban.
Hay tin con gái một ông kẹ trong xóm làm gái đứng đường, Mã Ban liền truy lùng cho bằng được rồi dắt lên khách sạn trả thù ông kẹ một trận tơi bời. Hàng xóm hay tin Mã Ban trả thù ông kẹ bằng cách vùi dập con gái ông ta trong khách sạn hết lời tung hô, khi sạch túi, Mã Ban trở về nhà gặp vợ bệnh, con đói thi nhau réo gọi cần tiền. Chịu không thấu, Mã Ban bỏ ra quán cà phê đầu hẻm ngồi thư giãn. Đi chán thì không sao, cứ hễ về nhà là Mã Ban lại nghe vợ con “ca” điệp khúc “tiền, tiền”.
Ngán ngẩm quá, Mã Ban đành bỏ nhà đi lang thang. Đàn anh đám dân chơi cầu Ba Cẳng phong lưu thuở nào cám cảnh cất giọng ai oán: “Ôi thời oanh liệt nay còn đâu?”, năm 2009, em trai Mã Ban từ Canada về giúp anh một số tiền lớn. Có vốn, Mã Ban mở nhà hàng trên tầng thượng một khách sạn trên đường Nguyễn Chí Thanh, quận 5. Dân ăn nhậu sành điệu nô nức kéo tới ủng hộ ông chủ Mã Ban. Em út rần rần kéo tới nhà hàng hát karaoke, nhảy múa tưng bừng. Ông chủ Mã Ban hào hứng đi những bước nhảy lả lướt giữa đám em út. Nhiều lần, Mã Ban hứng chí thiết đãi nhiều khách ăn nhậu miễn phí. Ông chủ Mã còn vui vẻ cho nhiều khách ăn nhậu được nợ tiền. Lần hồi, nhà hàng lỗ vốn nặng nên đóng cửa vĩnh viễn.
Blog Saigon xưa






Phòng trà Tự Do với ban nhạc “The Dreamers”, nói đến phòng trà ca nhạc đất Sài Gòn, người yêu nhạc xưa ngoài các ban nhạc xưa thì không thể không nhắc đến Jo Marcel, một nghệ sỹ đa tài, vừa là một nhạc công, vừa là một ca sỹ có chất giọng trầm ấm nhưng ông cũng là một nhà tổ chức âm nhạc và quản lý phòng trà nổi tiếng bậc nhất của làng nhạc Việt, đầu những năm 1970 tại Sài Gòn có 5 phòng trà nổi tiếng nhất được gọi là ‘ngũ đại phòng trà’, đó là Tự Do, Đêm Màu Hồng, Queen Bee nằm trên hai trục đường lớn trung tâm Nguyễn Huệ và Tự Do nay là Đồng Khởi, tuốt vào Trần Hưng Đạo, góc Phát Diệm là phòng trà Ritz và Baccara.
Xin hết.

Phòng trà xưa tại Sài Gòn trước 75, xem lại Phòng trà xưa của người dân Sài Gòn ,đây là Film nhựa gốc 35mm được chụp lại từng khung hình một và tái phục dưới công nghệ 2k mới và tiên tiến nhứt với sự hợp tác về kỹ thuật của Spectra Films Studio, Hollywood, phim được lưu trữ và bảo vệ bản quyền tại The United States Copyright Office (USCO) Hoa Kỳ.
Phòng trà vào năm 1970 với minh tinh Lê Quỳnh và nữ nghệ sĩ HK Co Lam trích trong bộ phim “From Saigon to Dien Bien Phu”

Nguồn: I tờ nét

1.Vua phế liệu và tín dụng Lâm Huê Hồ.
2.Vua lúa gạo Mã Hĩ .
3.Lại Kim Dung (nữ hoàng gạo).
4.Vua bột ngọt Vị Hương Tố, trưởng bang Triều Châu là Trần Thành.
5.Nổi bật là vua dệt và sắt thép Lý Long Thân trong bài viết dưới đây.
==>
Sơ Lược tiểu sử
Lý Long Thân sinh ngày 27-8-1918 tại Amoy tỉnh Phúc Kiến, Trung Hoa. Cha là Lý Ngọc, mẹ tên Trương Thị. Gia đình nông dân đông con, bữa đói bữa no, nên ngay từ nhỏ, Lý đã có khát vọng cho một cuộc đổi đời. Năm 1938, lúc 20 tuổi, Lý và người bạn tên A Chảy đi làm thuê, góp tiền làm lộ phí, đến giữa năm đó thì họ có mặt ở Hải Phòng. Nhưng hải cảng nầy không phải là nơi dung thân của họ Lý. Hắn lại trốn lên tàu, làm thuê, mò đường vào Sài Gòn. Anh ta tìm đến bang hội Phúc Kiến ở Chợ Lớn để nhờ giúp đở. Do mặt mày sáng sủa, ăn nói lễ độ, tay chân nhanh nhẹn, thu phục được tình cảm của Bang chủ, nên anh ta được giới thiệu vào làm việc tại một hiệu kim hoàng nổi tiếng là Kim Thành.

Lý Long Thân với cơn sốt chim cút Những năm 1970, Sài Gòn rầm rộ dấy lên phong trào nuôi chim cút, lấy trứng và bán thịt cho các nhà hàng, tiệm ăn, dư luận cho rằng tỷ phú người Hoa Lý Long Thân là người đã tạo ra cơn sốt chim cút làm cho rất nhiều người phải tán gia bại sản, trái lại Lý Long Thân thu vào một số tiền kết xù trong một thời gian ngắn. Chim cút được nuôi ít nhất là từng cặp, trống, mái. Hai tháng sau khi nở, cút mái đẻ từ 10 đến 12 trứng mỗi đợt. Sau khi không còn đẻ nữa thì được bán làm thịt.
Cơn sốt chim cút làm giá bán tăng lên một cách kinh khủng từng ngày, từng giờ một, cùng với tin đồn dồn dập “cút đẻ ra vàng”. Quảng cáo trên báo, người cần mua một cặp cút giá 5,000 đồng, người cần bán 3 cặp chim cút với giá 8,000$ một cặp. Thế rồi giá bán, giá mua được phổ biến tăng lên đến điểm đỉnh lá 15,000$ một cặp. Nhiều tay chơi bạo muốn làm giàu nhanh chóng, bán xe, vay nợ, mang hết tài sản ra mua chim cút để hốt bạc, nhưng bổng dưng không còn ai mua cút nữa, thế là tán gia bại sản, cút đem rô ti nhậu chơi. Thủ đoạn của gian thương.
Trước hết, nắm được số lượng chim cút của phong trào mới bắt đầu, tỷ phú tung tiền ra cho đám thuộc hạ là hệ thống chân rết thu gom một số lượng lớn với giá rẻ để tích trữ, chờ khi giá lên cao tung ra bán để hốt bạc. Đồng thời phát động những tin đồn “cút đẻ ra vàng” ra khắp nơi. Các mục quảng cáo trên báo liên tục đưa tin tăng giá, tăng đến cao điểm là 15,000 một cặp cút đang đẻ. Người đăng báo muốn mua và muốn bán thật ra cũng chỉ là người trong đám chân rết của đại gia mà thôi.
Nhiều người thật sự đã thu lời do bán một vài ba cặp cút, nhưng sau đó lại bỏ thêm tiền mua vào để kiếm lời nhiều hơn nữa. Tóm lại, cơn sốt chim cút chỉ là việc đầu cơ tích trữ, tạo khan hiếm giả tạo để nâng giá, và cuối cùng tung số lượng tích trữ ra bán giá cao để thu lợi. Gian thương hốt bạc, những người muốn làm giàu nhanh chóng mà không có kinh nghiệm thương trường lãnh đủ.
Trắng tay Lý Long Thân với vụ tàu chở giấy Viễn Đông Vụ cơn sốt chim cút do tăng giá để hốt bạc, vụ tàu giấy Viễn Đông do hạ giá để hốt bạc. Ngày 12-5-1974, văn phòng công ty Đại Nam của Lý Long Thân nhận được điện tín của một nhân viên thuộc hạ ở ngoại quốc báo tin, lúc 6 giờ sáng cùng ngày tàu Viễn Đông đã rời cảng Stockhohm (Thụy Điển) chở về Sài Gòn cho công ty X 6,000 tấn giấy, gồm 4,000 tấn giấy vở học sinh và 2,000 tấn giấy in báo. Đồng thời bức điện cũng cho biết giá giấy trên thị trường quốc tế.
Đọc xong bản tin, Lý Long Thân tính nhẩm ngay ra số tiền lời có thể thu được, mặc dù tàu giấy đó không phải của anh ta, mà cũng không phải giấy là ngành nghề kinh doanh của họ Lý. Kế hoạch hạ giá Lập tức, Lý hạ lịnh cho các cửa hàng trong hệ thống chân rết của anh ta, hạ giá giấy 10%, riêng khu vực Sài Gòn hạ 20%, rồi 30%, đồng thời đăng quảng cáo rầm rộ là có 2 tàu chở giấy sẽ cập bến Sài Gòn với giấy tốt, giá rẻ.
Tin tức quá ồn ào. Giá giấy hạ xuống đột ngột khiến các nhà in, các tờ báo, các nhà kinh doanh giấy đều e ngại, không dám tích trữ giấy, cũng không dám mua vào vì sợ tiêu thụ không được. Đích thân ông chủ công ty X đi chào hàng, nhưng đến đâu cũng nhận được những cái lắc đầu mà thôi. Độc hơn nữa, khi tàu gần cập bến, Lý lại cho người mang giấy trắng ra phát không cho những người người bán quà bánh, bán rong trong khu vực cảng, mỗi người vài tập giấy trắng tinh.
Tàu Viễn Đông cập bến, ông chủ công ty X ra đón, thấy giấy trắng gói hàng trắng xoá nằm vung vãi trên mặt đất, bèn hỏi và được trả lời: “Giấy rẻ như cho không, không gói quà thì để làm gì? Tàu Viễn Đông nằm suốt mấy ngày mà chưa có người mua đến chở hàng. Bãi trường mùa hẻ lại đến, học sinh nghỉ hè nên chưa vội mua sắm tập vở. Các cơ sở bán lẻ giấy cũng chờ đợi giá cả nên không thu vào. Đúng lúc đó, người của công ty Đại Nam đặt vấn đề mua trọn số giấy trên tàu với giá hạ 50%. Bị lỗ nặng, nhưng không bán không xong, lại phải chịu lỗ thêm về cước phí vận chuyễn. Vậy là, 6,000 tấn giấy vào kho của Lý Long Thân.
Sau đó, một số báo “khám phá” ra rằng, tàu chở giấy về Sài Gòn chỉ là “tin vịt”, bố láo, khiến cho giấy lại lên giá và Lý Long Thân lại hốt bạc. Trước đó, giới thương gia ít có người biết dùng gián điệp kinh tế, báo chí, và phao tin đồn thất thiệt trong việc cạnh tranh trên thương trường.
Khi đã giàu có, Lý Long Thân rải tiền ra để mua chuộc, kết giao với những nhân vật có quyền thế trong giới kinh doanh, những nhân vật có tên tuổi trong những bang hội người Hoa. Họ Lý cũng dần dà quen lớn với những tai to mặt lớn trong chính quyền và quân đội, trong đó có Thiếu tướng Lê Văn Viễn, tự là Bảy Viễn, biệt danh con cọp Rừng Sác, cùng hai quân sư tin cậy là Lại Hữu Tài và Lại Hữu Sang.
Lý Long Thân khởi xướng việc mua bán á phiện, đó là một tổ chức gồm những người đứng tên trong bóng tối là Lý Long Thân, Bảy Viễn, trung tá tình báo Pháp (Phòng Nhì) Antonio Savani, chủ khách sạn Continental Palace là Mathew Franchini. Khách sạn Continental thuộc 4 sao, tại số 132-134 đường Tự Do, ngang bên hông Hạ Viện Quốc Hội Việt Nam Cộng Hòa, được xây dựng năm 1878, cao 4 tầng, có 86 phòng. Phòng họp chứa đến 800 người.
Những người lộ diện thực hiện là Trần Phước, Franchini và Mã Tuyên cùng một số đàn em. Trung tá Savani là người móc nối Bảy Viễn bỏ Việt Minh về với chính phủ Quốc Gia của vua Bảo Đại, nên sự liên lạc giữa hai người rất mật thiết. Trần Phước là tay kinh tài của Bảy Viễn. Trước kia Bảy Viễn làm tài xế cho ông chủ người Hoa giàu có là Trần Phước. Khi Bảy Viễn lên Thiếu tướng và có quyền hành lớn của ngành công an, cảnh sát và quân đội Bình Xuyên, Bảy Viễn đem Trần Phước về nắm nguồn tiền của mình. Lý Long Thân đến với Bảy Viễn qua tay Trần Phước. Số là năm 1951, tình báo Pháp thành lập một đội quân bí mật mang tên “Lực lượng biệt kích không vận phối hợp” thuộc cơ quan Tình báo Đối ngoại và Phản gián.
Nhiệm vụ không vận tiếp tế và huấn luyện những đơn vị biệt kích tại những khu tự trị của người thiểu số Thái, Mèo, HMông ở phía Tây Bắc Bắc Việt và phía Đông Bắc nước Lào. Những toán quân nầy quấy rối các mật khu của Việt Minh ở Việt Bắc và của Lào ở Sầm Nứa. Khi trở về, những phi cơ vận tải chở theo á phiện. Đến phi trường Tân Sơn Nhất, á phiện được các xe vũ trang của cảnh sát, hộ tống về nhà kho của Bảy Viễn ở số 43 đường Lacaze (Nguyễn Biểu, Q.5) Từ đó, Lý Long Thân chỉ đạo phân phối thuốc phiện đến gần 2,500 tiệm hút và nhà hàng ở Sài Gòn-Chợ Lớn và các tỉnh lân cận.Số lớn á phiện còn lại thì Franchini chuyển về hải cảng Marseille (Pháp) để cho nhóm Mafia Atoine Gurini chế biến thành heroine cung cấp cho thị trường châu Âu và Hoa Kỳ. Về việc phân phối đến các tiệm hút thì Lý Long Thân điều khiển trong bóng tối và người thi hành là Mã Tuyên, cho nên họ Lý nầy không để lại dấu vết nào cả.
Lý Long Thân có một thành tích buôn bán phi pháp nhưng đã khôn khéo bạch hóa hồ sơ trở thành một công dân bình thường, tháng 3 năm 1975 Lý Long Thân đi HongKong và biến luôn.

Nguồn: I tờ nét

Chương 1
Từ một cậu bé bụi đời ở đường hẽm sau rạp chiếu bóng Cathay, nhờ liều mạng và lì đòn, Đại đã trở thành một trùm xã hội đen ở Sài Gòn Chợ Lớn với cái tên Đại Cathay, lúc bấy giờ, giới giang hồ đất Sài Gòn có 4 đại cao thủ, được gọi là Tứ Đại Thiên Vương, gồm có Đại, Tỳ, Cái, Thế. Đó là Đại Cathay, Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế.

Đại Cathay được xếp hàng đầu, gọi là đại ca của những đại ca trong giới giang hồ Sài Gòn. Không những là thủ lãnh của những tay du côn, du đảng, đâm thuê chém mướn, đầu trộm đuôi cướp, mà Đại Cathay còn thu phục đám trí thức, công tử con nhà gia thế, học trường Tây, và một số văn nghệ sĩ nữa.
Bên cạnh đó, nhóm Hắc đạo người Hoa trong Chợ Lớn nổi tiếng nhất là Tín Mã Nàm (Con ngựa điên) cũng hùng cứ một phương. Một rừng không thể có 2 cọp, cho nên những cuộc hỗn chiến đẫm máu, kinh hồn nổ ra để tranh giành lãnh địa, quyền lực và chia chác lợi lộc. Chiến thắng trong những trận tranh hùng đã đưa Đại Cathay trở thành ông trùm giang hồ, thời những năm 1960, nhiều huyền thoại tô vẽ Đại Cathay làm cho nhân vật nầy, vợ hắn và đàn em, trở thành những nhân vật trong tiểu thuyết, điện ảnh, âm nhạc qua những tác phẩm như Điệu Ru Nước Mắt, Vết Hằn Trên Lưng Ngựa Hoang, Trần Thị Diễm Châu, đưa tên tuổi Đại Cathay lên tuyệt đỉnh trong làng dao búa.
Tánh ngổ ngáo, ngang tàng coi thường pháp luật đã giết chết tên trùm du đảng nầy. Tự xem mình như ông trời con, ra đường, Đại chễm chệ trên băng trước của chiếc Mustang mui trần, hiệu xe mà chỉ có vài chiếc ở Sài Gòn, cả chục đàn em rú ga xe gắn máy, trước mở đường, sau hộ tống, cuộc đời tội lỗi, dù có lẫy lừng đến đâu, rồi thì cũng chết trong tội lỗ
==>
1.Tứ Đại Thiên Vương Sài Gòn
Thế giới giang hồ Sài Gòn ở những năm 1960 dưới sự cai quản của 3 tay đại ca nổi tiếng, là Huỳnh Tỳ, Ngô Văn Cái và Nguyễn Kế Thế (Ba Thế). Ba Thế là một cao thủ tiếng tăm, làm chủ vũ trường Aristo trên đường Lê Lai, bên hông ga xe lửa Sài Gòn, trước sự lớn mạnh của băng Đại Cathay, 3 tay sếp sòng nầy không mấy vui lòng, sau khi ổn định tổ chức, băng đảng của Trần Đại có đến hàng trăm anh em, những đàn em xừng xỏ như Lâm Đào Già (Sau khi bị Tín Mã Nàm chém rụng một ngón tay, nên có tên là Lâm 9 ngón), Hoàng Sayonara (còn gọi là Hoàng Guitar) là quân sư, Hùng Đầu Bò, bác sĩ Nghiệp, Dzách Bửu…Ban tham mưu có đủ văn võ từ đánh đấm đến chiến lược.

Trần Đại quyết định mở rộng uy thế và địa bàn hoạt động, nên gởi thơ đến bộ ba đại ca đầu xỏ đề nghị hợp tác làm ăn, nhận được thơ, Huỳnh Tỳ chửi thề, “Nó là cái thằng nhóc năn nỉ xin được đánh giày cho tao trước kia, nó có tài cán gì mà xưng là đại ca và đòi hợp tác làm ăn”, cả ba quyết định phục kích, đánh hội đồng để triệt hạ Đại Cathay. Một bữa tiệc được tổ chức, gọi là “tiệc đề nghị kết hợp”, mời Trần Đại đến dự để bàn công việc, không chút nghi ngờ, cứ nghĩ rằng 3 tay anh chị nầy muốn qui thuận, về làm ăn chung với đại gia đình huynh đệ của mình, nên Đại ung dung, “đơn thân độc mã” đút đầu vào bẩy.
Mới lót tót lên tới cầu thang, vừa đưa tay ra bắt tay với Ba Thế, thì bất ngờ, Ba Thế nhảy lên cao, tung cú đá song phi mạnh như vũ bão, làm cho Trần Đại lộn cổ xuống thang lầu. Bốn tay em phục kích, rút dao ra chém loạn đả, tới tấp, quyết triệt hạ cho được Trần Đại. Đại chụp được chiếc ghế gỗ của bà bán thuốc lá trước cửa, vừa đở vừa tìm đường thoát thân với mình mẫy đầy thương tích, máu me thấm ướt cả áo quần, tưởng đâu mất mạng.
Trong thời gian dưỡng thương, Lâm Đào Già và Hoàng Sayonara huy động đám đàn em tổ chức bảo vệ đại ca, vì sợ bọn cô hồn bộ ba thừa thắng xông lên, tiếp tục tấn công truy sát, ngay sau khi các vết thương chưa kịp kéo da non, dù uy thế của Đại lúc đó rất lớn, có cả trăm đàn em, nhưng Trần Đại ra lịnh cho họ phải bất động, chỉ một mình Đại xách dao đi tìm, để tỉa từng người một, những kẻ đã tham gia vụ “bề hội đồng” vừa qua.
Cả ba tên Tỳ, Cái, Thế và 2 đàn em bị chém suýt toi mạng, tưởng đâu phải đi chuyến tàu suốt xuống Suối vàng, cuối cùng, 5 tên phải nhờ một lão giang hồ là Tám Lâu, có thân tình với Trần Đại, đứng ra làm trung gian dàn xếp, giảng hòa và xin Trần Đại cho họ có dịp để xin lỗi và chịu thần phục, danh xưng “Tứ Đại Thiên Vương: Đại, Tỳ, Cái, Thế” bắt nguồn từ sau bữa tiệc hòa giải hôm đó.
==>
2. Trận thư hùng giữa hai băng đảng Việt-Hoa
Chợ Lớn là thế giới riêng của người Hoa. Các bang hội như Phước Kiến, Triều Châu, Tiều, Quảng Đông… sinh hoạt riêng biệt, người Việt không thể chen chân vào. Người Hoa có khuynh hướng bao che, ít hợp tác với chính quyền, vì muốn bảo vệ đồng hương và sợ bị trả thù, giới kinh doanh người Hoa phát triển rất mạnh, nhiều đại thương gia Chợ Lớn có liên hệ với những tên tài phiệt Hồng Kông, Đài Loan, Ma Cau, họ có khả năng lủng đoạn nền kinh tế VNCH với những đại xì thẩu như Lý Long Thân, Mã Tuyên, và trước kia là Chú Hỏa, Quách Đàm…

Các bang hội bầu ra một Tổng Bang Trưởng, giống như một Bố Già để lãnh đạo cộng đồng Chợ Lớn, thời đó là Mã Tuyên, một nhân vật có uy thế đến nổi Tổng thống Ngô Đình Diệm phải nhờ bảo vệ ở nhà Mã Tuyên trong đêm 1-11-1963, trước khi đến nhà thờ Cha Tam.
So với băng đảng Đại Cathay, Hắc Đạo Chợ Lớn được tổ chức chặt chẽ và hùng mạnh hơn nhiều, đứng đầu băng đảng Chợ Lớn là Tín Mã Nàm, là nhân vật thứ hai sau Hoàng Long (Rồng Vàng) là người thống lãnh chi nhánh Sài Gòn-Chợ Lớn của Hội Tam Hoàng ở Việt Nam.
==>
3. Hội Tam Hoàng
Hội Tam Hoàng là một trong những băng đảng tội phạm lớn ở Hồng Kông, có chi nhánh trên các nước có nhiều người Hoa sinh sống, như Ma Cau, Đài Loan, các khu phố Tàu (China Town) ở châu Âu, Hoa Kỳ, Úc, New Zealand, Chợ Lớn.

Nguồn gốc là tổ chức Phản Thanh Phục Minh của các dòng họ có liên quan mật thiết với triều đình nhà Minh, như Mộc Vương Phủ, mà Kim Dung nói đến trong chuyện Lộc Đỉnh Ký với nhân vật chính là Vy Tiểu Bảo, sau nầy, Hội Tam Hoàng được tổ chức bí mật, hoạt động trên mọi lãnh vực như buôn lậu vũ khí, tống tiền, mãi dâm, bắt cóc, làm hàng giả, tiền giả, cho vay nặng lãi, cờ bạc…Riêng tại Hồng Kông, Hội Tam Hoàng có 50 băng đảng, quy tụ 80,000 hội viên.
A.Tín Mã Nàm
Tín Mã Nàm tên thật là Trần Hà Tư, lấy hiệu là “con ngựa điên”, người có thân hình hộ pháp, đã nhiều năm luyện tập võ Thiếu Lâm Hồng Gia Quyền. Năm 17 tuổi đã hạ đo ván võ sĩ vô địch Ma Cau.

Băng đảng của Tín Mã Nàm bảo kê các sòng bài, tiệm hút, động mãi dâm, nhà hàng, vũ trường. Các cơ sở kinh doanh người Hoa trong Chợ Lớn cũng phải “đóng hụi chết” hàng tháng cho Tín Mã Nàm.
Dưới trướng của đại ca nầy có nhiều cao thủ với nhuiều thành tích về đâm thuê, chém mướn, vào tù ra khám, làm ăn bất hợp pháp, như: Sú Há, Hắc Quẩy Chảy, Quầy Thầu Hao, Cọp Chảy, Lục Chỉ, Sám Sò, Hỏi Phoòng Kin (Kim Hải Phòng).
B.Kế hoạch mở rộng lãnh địa của Đại Cathay
Sau khi cũng cố thế lực ở quận 1, quận 2, vùng Đa Kao, Tân Định, Đại Cathay quyết định mở rộng địa bàn vào vùng Chợ Lớn, Theo kế hoạch của quân sư Hoàng Sayonara, Đại mua chuộc tên đàn em của Tín Mã Nàm, vốn có chuyện bất mãn với chủ tướng, là tài pán Dương Chí, phụ trách các sòng bài ở Chợ Lớn. Tên nầy bán đứng đàn anh bằng cách lôi kéo một số lượng lớn những con bạc nặng ký, từ các sòng ở Đại Thế Giới, rạp hát Hào Huê về các sòng ở Cầu Muối do Bảy Sy phụ trách. Bảy Sy là anh vợ của Năm Cam. Sau đó, Dương Chí bỏ luôn Tín Mã Nàm về Sài Gòn mở sòng cho Đại Cathay.

Tín Mã Nàm tức giận, ra lịnh: “Tao cho quyền tụi bây chém chết mẹ “ló” mấy cái thằng “làn em” nào của Đại Cathay dám ló mặt vào Chợ Lớn”.
C.Đại Cathay ra tay hành động
Trong suốt 12 tháng liền, Đại tiếp tục đổ quân tập kích các điểm làm ăn của băng Tàu Chợ Lớn. Chém đại bất cứ ai. Tấn công nhanh, chém lẹ rồi rút lui, với mục đích là gây kinh hoàng trong đám khách. Chiến thuật của quân sư Hoàng Sayonara xem ra có kết quả, vừa gây thiệt hại nặng nề cho địch, vừa bảo vệ lực lượng của mình và quyết đánh một trận lẫy lừng.

Đích thân Đại dẫn theo 9 đàn em thuộc loại “chiến đấu” nhất, gồm những cao thủ như Ba Thế, Lâm Đào Già, Phong Khùng, Lộc Điên…chở đôi trên 5 chiếc xe gắn máy hiệu Goebel, máy Sach của Đức, là loại xe chạy nhanh nhất thời đó, so với Mobylette và Velo Solex, thần tốc tấn công vào quán cà phê trước rạp hát Hào Huê, là nơi tụ tập của băng Tín Mã Nàm. Bị tấn công bất ngờ, nhưng nhóm nầy cũng phản ứng rất nhanh. Chỉ cần bật mặt quầy lên, thì một thùng mã tấu, đoản kiếm, trường thương đủ trang bị cho cả bọn.
Nhóm Tàu Chợ Lớn phản công dữ dội. Phong Khùng và Lộc Điên lãnh thẹo nặng nề, máu phun òng ọc ướt cả áo quần. Lâm Đào Già bị chém văng mất một ngón tay, nên từ đó, đổi tên thành Lâm 9 ngón, cuộc tập kích không thành công trọn vẹn, cả hai bên đều bị thiệt hại nặng nề, nhưng sau trận ra quân ác liệt đó, uy tín Đại Cathay lên cao trong giới giang hồ Sài Gòn-Chợ Lớn, sau đó, Tín Mã Nàm rơi vào tình trạng tuyệt vọng do công việc làm ăn xuống dốc thê thảm vì khách không dám bén mảng đến Chợ Lớn, sợ bị lãnh thẹo oan mạng.
Tín Mã Nàm hận thấu xương, nhưng không có con đường nào khác hơn là cử người mời Trần Đại lên nhà hàng Đồng Khánh để thương lượng, quân sư Hoàng Sayonara và Lâm 9 ngón khuyên Trần Đại đừng vào hang cọp. Coi chừng bị mắc bẩy, nhưng Đại Cathay nổi máu “anh hùng”, quyết định nhận lời lên nhà hàng Đồng Khánh theo y hẹn, để tài xế ngoài cửa, Đại một mình, tay không, lên lầu hội kiến với Tín Mã Nàm.
Một bàn tiệc dọn sẵn. Thủ lãnh người Tàu cùng với một “đội múa lân” gồm mười mấy tên, mặt nào cũng có ngầu, gườm gườm nhìn Đại ung dung bước vào bàn tiệc. Một tên đàn em, thấy Đại đi một mình, là thời cơ thuận tiện, nên xổ một tràng tiếng Tàu, đề nghị chủ tướng ra tay luộc con mồi đem ra nhậu.
Nhìn cử chỉ của Trần Đại, con ngựa điên thầm phục. Tay đại ca vùng Chợ Lớn nhượng bộ, đồng ý giao khu vực từ chợ Nancy ra Sài Gòn cho Đại toàn toàn quyền quản lý. Phần địa bàn Chợ Lớn, thì đàn em của Đại được mở sòng, mở động ở những nơi nào không có cơ sở của người Hoa. Riêng khu chợ Sắt, chợ Tân Thành và đường hẽm 100 là vùng tuyệt đối không được xâm phạm, vì đó là giang sơn của Tín Mã Nàm và là nơi mà vợ bé của hắn đang sinh sống.

Thế là xong một hợp đồng nhượng địa, tuy không có chữ ký, nhưng giang hồ cam kết thì được nghiêm chỉnh thi hành.
Hai ly rượu mừng nâng lên. Uống cạn và Đại Cathay ngự trị trong thế giới ngầm.


Nguồn: I tờ nét

Ga xe lửa luôn sống trong trí nhớ của tôi. Đó là khoảng thời gian tôi tám tuổi, Ba dẫn tôi đi “du lịch” một vòng thành phố. Khởi hành từ chợ Hòa Hưng bằng xe thổ mộ đến Vườn Tao Đàn, rồi cuốc bộ ra chợ Bến Thành, băng qua cầu vượt ngang Bùng binh Quách Thị Trang đến Ga xe lửa Sài Gòn. Cuối cùng tản bộ ra bến Bạch Đằng hóng mát, đứng xem con phà Thủ Thiêm. Từ đó, lại đi xe xích lô máy về nhà. Với một đứa nhỏ, lần đầu tiên trong đời có dịp đi chơi Sài Gòn thì chuyến đi thật là thú vị.
Nhưng điều thú vị nhất là lần đầu tiên thấy được đoàn xe lửa thật. Máy bay trên trời thì tôi đã biết, còn xe lửa thì chỉ nhìn thấy trong phim, nên khi tận mắt nhìn đoàn xe dài ngoằng nằm trên sân ga, lòng tôi thật háo hức. Ga xe lửa Sài Gòn thời đó không nhộn nhịp hành khách đi tàu cho lắm. Có bến xe lô nằm dọc theo vách tường gạch tô xi măng trên đường Lê Lai kéo dài đến Ngã Sáu Phù Ðổng. Tôi còn bé, đứng trong nhà ga bán vé, nhón chân nhìn qua cửa sổ thông thoáng thấy một đầu máy xe lửa từ phía bên kia sân ga chạy đến, ráp nối vào đoàn tàu thân gỗ sơn màu xanh đậm, chuẩn bị khởi hành cho tuyến Sài Gòn – Tuy Hòa. Hành khách tay xách nách mang hành lý lỉnh kỉnh bước vào sân ga. Nhưng rồi chuyến tàu không chuyển bánh, loa phóng thanh thông báo: “Ðoạn đường Ninh Hòa bị mìn, tàu chỉ đến Nha Trang, hành khách nào đi Tuy Hòa xin trở lại phòng trả vé.” Hành khách nhốn nháo, kẻ đứng chờ, người thất vọng về quê không được, đành lủi thủi quay về.
Ba tôi không nói gì về tình huống bấy giờ, về chiến tranh đang diễn ra mà chỉ giải thích xe lửa ngày nay chạy bằng dầu diesel, chứ không còn chạy bằng củi than đốt như ngày xưa nữa nên không còn nghe tiếng xình xịch. Và tôi cũng chẳng để tâm đến những tiếng thở than của số hành khách hụt chuyến về quê, trong đầu tôi chỉ tồn tại hình ảnh của đoàn tàu xe lửa. Ðầu tàu xe lửa thật lạ lẫm, không giống xe lửa trong phim cao bồi Montana mỗi tuần tôi đều xem trên truyền hình. Ðoàn tàu trong phim trông oai phong hơn nhiều với cái đầu máy thon tròn nhả từng cụm khói trắng mỗi khi kéo còi từng hồi. Và hình dáng đầu máy cổ xưa ấy, tôi đã có dịp bắt gặp nằm trên đường ray không còn hoạt động vào thuở tôi lên học đệ thất. Thường thì tôi đi bộ từ nhà đến trường theo đường Lê Văn Duyệt. Nhưng quen với mấy thằng bạn cùng lớp sống trong con hẻm ra ga Hòa Hưng gần rạp hát Thanh Vân nên tụi nó chỉ cho tôi đi con đường tắt dọc theo đường xe lửa băng qua mấy con hẻm nhỏ thông ra đường Nguyễn Thông đến trường nhanh hơn.
Nói là đường xe lửa nhưng đó chính là khu vực ga Hòa Hưng. Một khoảng đất rất lớn chạy dài từ depot Cống Bà Xếp đến cuối đường Nguyễn Thông, bề ngang lúc to lúc nhỏ, có chỗ rộng đến năm sáu chục mét, có nhiều đường ray phụ và chỗ bẻ ghi để đầu máy đổi đường kết nối kéo những toa tàu nhập vào đường chính. Chính khu vực đường xe lửa này để lại trong tôi nhiều kỷ niệm khoảng thời gian đầu cấp hai. Ðó là nơi của bọn học trò chúng tôi trong ngày học Thứ Sáu cuối tuần trống tiết được về sớm. Chúng tôi thường đi rảo theo đường ray, nhổ cỏ gà đá độ kẹo chewing-gum trên giàn dây thun căng ra giữa hai cây đinh cắm ngay trên nền đất. Có khi nổi hứng chơi trò cao bồi ngay trong những toa goòng xe cũ kỹ, nhảy lên chiếm lĩnh đầu máy hơi nước, miệng bắn súng ì xèo. Nhưng rồi cũng chỉ vài lần thì chúng tôi từ bỏ nơi đây vì chuyện “giang hồ” trẻ con giống như những nhân vật trong truyện “Dzũng Ðakao” của nhà văn Duyên Anh mà tôi đã đọc từ hồi học lớp năm.
Chúng tôi chẳng biết “địa bàn” là của ai. Ðó chỉ là một bãi toa goòng cũ nát, bên trong còn một ít băng ghế gỗ đâu lưng vào nhau. Lần đó chúng tôi chưa kịp bày trò thì bị một nhóm khác năm sáu đứa chừng bằng hoặc lớn hơn chúng tôi một hai tuổi, mặt mày trông bặm trợn “bao vây”. “Tụi bây ở đâu tới đây, quậy phá địa bàn tụi tao?” Mấy thằng tui im re. Một thằng trong nhóm chúng tôi gân cổ lên tiếng: “Dạ, tụi em là học sinh đi học về chơi đùa một chút, chứ đâu có quậy phá gì đâu, đại ca.” “Im miệng! Ai là đại ca của tụi bây.” “Tụi em đâu có ai làm đại ca, tất cả đều là bạn học.” “Thằng ngu! Ý tao nói tao không phải là đại ca của tụi bây, đừng có bắt quàng làm họ. Cấm tụi bây lảng vảng khu vực này. Chỗ này là của tụi tao, dân chơi hẻm số Hai, nghe rõ không?” Thằng bạn cãi lý: “Từ nào giờ em nghe nói dân chơi Cầu Ba Cẳng, chứ đâu nghe nói dân chơi hẻm số Hai đâu đại ca.” “Hẻm số Hai là hẻm số Hai. Con hẻm nhỏ đối diện với cái cổng Biệt Khu Thủ Ðô đó, biết chưa?” Thằng bạn lí nhí trong miệng: “Dạ… dạ, biết rồi. Thôi tụi em về, không đến đây chơi nữa.” “Ðứng lại, dễ tha như vậy sao. Tụi bây đâu, tịch thu ‘vũ khí’ của tụi nó cho tao.” Một thằng trong nhóm tụi tui buột miệng: “À đù…, tụi em đâu có vũ khí gì đâu.” “Mày nói gì? Nói lại coi. Không có đù đưa cù cưa gì hết. Tụi bây lục cặp tụi nó, tịch thu bút máy cho tao.”
Chúng tôi mất hết bút viết. Có thằng mất cây Parker đắt tiền, còn tôi mất toi cây Pilot mới mua. Men theo đường tàu về xóm ga Hòa Hưng, thằng bạn bây giờ mới nổ văng miểng: “Nó mà lạng quạng xuống Cống Bà Xếp thì tao kêu mấy thằng bạn ở đó cho nó một trận.” “Thôi đi tám. Mày chỉ dám “bạc co” tay đôi ‘miệng’ với nó thôi chứ làm được gì!” Nói xẵng bực mình ngoài miệng, chứ trong lòng tôi không bực dọc tụi du côn ăn hiếp mà lại lo lắng không biết nói sao với Má tôi để xin tiền mua cây bút mới, rồi cũng từ thời gian này, chiến tranh ngày càng lan rộng. Mấy năm sau đường xe lửa miền Trung thu hẹp dần cho đến khi chỉ còn hoạt động tuyến Sài Gòn – Biên Hòa – Long Khánh, rồi chấm dứt luôn trong một thời gian ngắn sau năm 1975. Tôi không còn sang hẻm ga Hòa Hưng vui chơi cùng bạn bè đi dọc theo những thanh tà vẹt dựng thành tường rào nhà ga, vạch cỏ để bắt dế than dế lửa cho những trận đá dế say sưa. Bọn học sinh chúng tôi mỗi người một ngả, tôi lên cấp ba học trường ở trung tâm Sài Gòn phải đi bằng xe đạp. Những ngày tháng đó lòng lúc nào cũng hoang mang không biết tương lai rồi sẽ ra sao!
Tôi nhớ khi ấy, xe lửa không còn hoạt động ở ga xe lửa Sài Gòn mà di chuyển về ga Hòa Hưng. Tuy vậy, vẫn những đoàn tàu năm sáu toa xe goòng vẫn còn hoạt động ngay trung tâm thành phố, qua lại trên đường ray cũ, không chỉ từ ga Sài Gòn mà còn chạy ra đến cảng Sài Gòn theo đường ray chạy giữa đại lộ Hàm Nghi, quẹo qua Võ Di Nguy (Hồ Tùng Mậu sau này) rồi chạy ra Cảng Sài Gòn. Nghe người ta nói là xe lửa ra cảng nhận bo bo do Liên Xô viện trợ bổ sung, đây là thời kỳ ăn độn của dân Sài Gòn. Tôi còn nhớ mỗi ngày đi học về, vẫn thường bị kẹt xe khi đoàn xe lửa chạy cắt ngang qua các con đường trong trung tâm thành phố trên đường Cách Mạng Tháng Tám, tức Lê Văn Duyệt cũ. Ðến năm 1978, ga Sài Gòn dời tạm về ga Bình Triệu để sửa chữa lại ga Hòa Hưng nhỏ bé thành ga hành khách rộng lớn, lấy theo tên cũ là ga Sài Gòn. Như vậy, nhà ga Sài Gòn do Pháp xây dựng đầu tiên ở khu vực Chợ Cũ, sau hơn trăm năm phải đổi chỗ ba lần.
Việc thay đổi vị trí từ ga Sài Gòn về ga Hòa Hưng vào thời gian đó xem ra hợp lý vì dân số thành phố chưa gia tăng. Hơn nữa có depot Cống Bà Xếp xây dựng từ những năm 50, diện tích rộng rãi, đầy đủ cơ xưởng sửa chữa, tu bổ đường sắt. Ga Sài Gòn được khánh thành năm 1983, những con hẻm thông với đường Nguyễn Thông khi xưa biến mất, nối liền con đường nhỏ trở thành đường lớn thông ra Cống Bà Xếp. Ðầu máy xe lửa cổ xưa cũng không biết bị dời đi đâu. Bên ngoài không xa sân ga là chợ trời mua bán đồ sứ, chén kiểu nhập từ Trung Quốc làm khu vực ga Sài Gòn càng nhộn nhịp hơn.
Riêng tôi chẳng cần phải phân biệt ga Sài Gòn hay ga Hòa Hưng làm gì vì Hòa Hưng cũng là Sài Gòn mà thôi. Hơn nữa cả hai nhà ga là nơi để lại trong tôi nhiều kỷ niệm. Nhưng chắc những người tuổi từ 60 trở về trước, ít nhiều trong lòng hẳn còn vương vấn nỗi niềm với những đoàn tàu trên sân ga Sài Gòn. Từ sân ga trăm tuổi nằm giữa trung tâm Sài Gòn hoa lệ một thời có đường xe lửa đi Mỹ Tho, các tỉnh miền Trung và Ðà Lạt, trải qua những giai đoạn lịch sử thăng trầm vẫn để lại dấu ấn khó phôi pha trong miền ký ức.

Nguồn: I tờ nét

Vỉa Hè… Này những Khóc, Cười bầy ra.
Vỉa Hè… Này những Khóc, Cười bầy ra.
Mùa Thu 2016 về trên Rừng Phong.
Tôi đã sống ở Kỳ Hoa hai mươi mùa Thu Vàng.
Năm năm Thu đến, người Viết ở Rừng Phong lại viết về Thu.

Tiếng Thu, tác giả Âu Dương Tu. Bản Việt Văn của Nguyễn Hiến Lê.
Âu Dương Tử đương đêm đọc sách, nghe thấy có một thứ tiếng từ tây nam lại, giợn mình, lắng tai, nói:
– Lạ thay! Mới đầu thì lào rào, hiu hắt, rồi bỗng vun vút, ầm ầm, như sóng réo ban đêm, gió mưa táp tới. Nó đụng vào vật, nghe xoảng xoảng vang vang như sắt, vàng cùng kêu, lại như tiếng quân lình tiến lên phía địch, ngậm tăm mà chạy mau, không nghe thấy hiệu lệnh, chỉ nghe tiếng đi của người và ngựa.
Tôi bảo đồng tử:
– Tiếng ấy là tiếng gì vậy? Con ra coi xem.
Đồng tử đáp:
– Trăng sao vằng vặc, sông Ngân Hà ở trên trời, bốn phía không có tiếng người, tiếng ở trong lùm cây phát ra.
Tôi nói:
– Ôi.. buồn thay. Tiếng đó là tiếng mùa thu đấy. Sao mà tới đây? Ôi hình trạng mùa thu, sắc thì ảm đạm, khói tỏa ra, mấy thu lại; vẻ mùa thu trong trẻo, vòm trời cao mà mặt trời sáng; khí mùa thu lạnh run, chích da nhói xương; ý mùa thu tiêu điều, núi sông tịch mịch. Cho nên tiếng mùa thu thê lương ghê rợn, hô hào phấn phát. Cỏ đương xanh um, tranh nhu tươi tốt, cây dương xum xuê khả ái; mà nó quất vào, chạm vào thì cỏ biến sắc, cây rụng lá. Sở dĩ cây cỏ tiêu điều linh lạc là do cái dư khí nghiêm khốc của mùa thu.
Thu là mùa dụng sự của hình quan, về thời tiết thi thu thu thuộc âm, nó lại tượng trưng cho việc binh, về ngũ hành thi thu là kim, vì vậy mà bảo nó là cái khí không lành của trời đất, thường lấy sự nghiêm khốc tàn sát làm chủ tâm. Trời đối với vật, mùa xuân thì nẩy nở, mùa thu thì thành quả. Cho nên về âm nhạc, tiếng “thương” là thanh âm của phương tây, mà “di tắc” là âm luật của tháng bảy. “Thương” có ý là bi thương, vật đã già rồi mà bi thương ; “di” có ý là chết, vật quá thịnh rồi thì phải suy bại mà chết.
Than ôi! Thảo mộc vô tình, có thời phải điêu linh, người là động vật, linh hơn hết cả; trăm nỗi lo làm xúc động trong lòng, vạn việc đời làm lao khổ thân hình; hễ xúc động ở trong lòng thì tinh thần tất dao động; huống hồ còn nghĩ đến những cái quá sức lực của mình, lo những việc quá trí lực của mình, thế thì dong mạo hồng hào mà biến thành cây khô, tóc râu đen mướt mà hóa ra bạc phơ, là đáng lắm. Không phải là chất của kim thạch, sao mà lại tranh tươi tốt với cỏ cây? Thử nghĩ ai làm hại thân mình, chứ giận chi cái tiếng thu.
Đồng tử không đáp, gục đầu mà ngủ. Chỉ nghe bốn phía vách có tiếng trùng ri rỉ như góp thêm tiếng than thở với tôi.
o O o
Tìm trong “hoanghaithuy.com” thấy mấy lá thư gợi nhớ một thời tôi sống ở Sài Gòn.
Đây là thư của một em từng mua số thuốc Tây của tôi năm xưa. Em tên là Phát, thư Em gửi cho tôi khi Em ở Pháp, tôi ở Mỹ.
Lộc Phát, March 7, 2010:
Không biết Bố có còn nhớ mấy tên Chợ Trời đón mua Thuốc Tây ở Bưu Ðiện Gia Ðịnh năm xưa không? Chúng con là Lộc, Phát. Nay chúng con ở Pháp. Bố và Maman có được khoẻ không? Chúng con từng đến nhà Bố mua số thuốc Tây của Bố. Hôm nay nhờ đọc Trang này của Bố, con viết thư thăm Bố. Mong Bố trả lời, chúng con mừng.
CTHàÐông. Kỳ Hoa September 2016: Vợ chồng tôi vẫn nhớ Lộc, Phát, hai em từng nhiều lần đến căn nhà nhỏ của chúng tôi trong Cư Xá Tự Do, Ngã Ba Ông Tạ. Ðó là những năm 1981, 1982, chúng ta sống nhờ những số Thuốc Tây do những người thân của chúng ta ở Pháp, ở Mỹ gửi về. Các em mua số Thuốc Tây ấy của chúng tôi.
Mèn ơi.. 1982, 1992, 2002, 2010.. Thấm thoắt dzậy mà đã 30 mùa lá thu vèo qua cuộc đời chúng ta. Tháng Năm 1984 tôi bị bắt, chắc các em có biết. Hiện nay các em ở thành phố nào bên Pháp? Nay chúng ta tình cờ gặp nhau, chắc các em không nhìn ra tôi mà tôi cũng không nhìn ra các em. Tôi khỏi cần gửi ảnh vợ tôi và tôi cho các em vì các em xem Trang này – “hoanghaithuy.com – các em đã thấy ảnh chúng tôi.
Cám ơn Lộc, Phát, mười mấy năm rồi hai em còn nhớ chúng tôi mà hỏi thăm. Nay vợ chồng tôi già cốc đế đại vương rồi, nhưng với số tuổi của chúng tôi – Tám Bó – thì chúng tôi thuộc loại Tám Bó khoẻ mạnh.
Nhớ lại những ngày “phấn khởi, hồ hởi” cầm giấy gọi đi lãnh đồ, trên xe đạp phăng phăng đến Bưu Ðiện Bình Thạnh, chen chúc vào lãnh đồ. Ðược một hộp Thuốc Tây 1 ký-lô, vợ chồng tôi có thể sống được một tháng. Các em biết tôi là văn sĩ nên trọng nể vợ chồng tôi. Cám ơn các em.
Tôi gửi các em bài thơ Lãnh Ðồ tôi làm để ghi lại một thời chúng ta sống nhờ Ðồ ở Sài Gòn:
Muốn tắm mát thì lên ngọn sông Ðào,
Muốn ăn sim chín thì vào rừng xanh.
Ðôi tay anh vín đôi cành,
Quả chín anh hái, quả xanh anh vồ.
Năm, sáu năm nay anh ăn ở Thành Hồ,
Anh ra Bưu Ðiện lãnh đồ em cho.
Ðồ Em vừa nặng vừa to.
Anh đã con mắt, anh no cái mồm.
Cho tôi I-Meo của các em, tôi sẽ gửi Meo sang các em.
Tìm trong tập giấy cũ, tôi thấy lại mấy bài thơ tôi làm trong những năm 1981, 1982;
BÀI CA ÐỒ NGOẠI
* Chẳng phải đồ lô, vẫn của nhà
Ðồ zin em gửi tận Uy-Dza
Vải hoa, soie Pháp, vui lòng mẹ
Hộp quẹt, quần jeans, mát dạ cha
Camay, Colgate mồm thơm lại
Maalox,  Lyneo mắt sáng ra
Còn non, còn nước, còn đồ ngoại
Còn đồ em thơm cứ như hoa ..

* Một lọ thuốc, hai lọ thuốc, ba lọ thuốc …
Anh thấy những ngón tay em ngà ngọc, ve vuốt trên ánh thủy tinh
Em nói với anh bằng tiếng Becozim ngọt lịm, hiền hòa
Em hôn anh bằng những nụ hôn Alka –
 Seltzer
Anh hít mùi da thịt em thơm trong những mét soie
Anh uống từng giọt nước mắt, nếm từng giọt mồ hôi em
trong lòng những cây bút bic …
Cho anh khóc bằng mắt em … những mối tình
Campovit …
Cho anh mơ thấy em về trong mù mịt đêm nay …
Em ơi … Lyncocin … Terneurine … Eucalyptine …
Coramine …
Anh yêu em … Levi’s … Jeans … Em có hay ?

*****

Em ôm tình anh nặng một vòng tay
Phấn son cho má em hồng, Colgate cho răng em trắng.
Và những Camay
Cho da thịt em thơm như ngày em mới yêu lần thứ nhất.
Em biết anh hôn em vì em ngây ngất
Khi em mặc chật chiếc slip ôm tròn
Em quằn quại đêm nay vì trên ngực anh hôn
Khi em lịm hồn trong chiếc soutien lụa mịn
Anh ơi … Em yêu anh… Bufferin …
Em nhớ anh … Bevitine … Maalox … Neo Codeine …!

* Một cây mười mấy nghìn đồng
Ðược tin em mới lấy chồng ở bên
Cái áo nylon ai  khéo mặc thì bền
Lấy ai thì lấy đừng quên gửi đồ

* Nhớ ai ai có nhớ cùng
Ai  chi cho được một thùng thì hay
Có gửi thì gửi thuốc Tây
Ðừng gửi thuốc lá ở đây anh buồn!

Lấy lý do bảo vệ thuốc lá sản xuất trong nước, bọn Cộng tịch thu tất cả những thứ thuốc lá từ ngoại quốc gửi về. Việc này xẩy ra vào khoảng năm 1980. Cùng thời có kẻ chơi ác ở Hoa Kỳ lén bỏ những viên thuốc bậy vào những lọ thuốc Tylenol nên tất cả những lọ thuốc Tylenol ở Hoa Kỳ đều bị thu hồi. Khi ấy những hũ, những ve thuốc Âu Mỹ chưa có miếng giấy bạc che kín ở miệng lọ. Sau đó tất cả những lọ thuốc Tấy đều có dán miếng giấy bạc ở miệng lọ. Bọn Cộng Thành Hồ vẫn cứ tịch thu những lọ Tylenol từ Mỹ gửi về, chúng lấy Tylenol của dân để chúng vá vợ con chúng dùng, hay để bán cho những người bán thuốc Tây ở các chợ.
Ba tháng sau Ngày 30 Tháng Tư 1975, theo đúng thông lệ quốc tế, bọn Cộng sản đi đến đâu, nơi đó lập tức bị tàn mạt. Khi bọn Tầu Cộng vào những thánh phố Tầu, nhiều người Tầu nhẩy lầu tự tử. Khi bọn Bắc Cộng đưa ảnh Lão Hồ vào đường Tự Do, Sài Gòn, Sài Gòn có nhiều người tự tử. Tin về những vự tự tử ấy bị bọn Bắc Cộng bịt đi nên ít người biết.
Tôi – CTHĐ – được biết Sài Gòn có ba người tự tử trong Tháng 5 – 1975.
1 – Ông Trần Chánh Thành, người từng giữ chức Bộ Trưởng Bộ Thông Tin Chính phủ Quốc Gia Việt Nam Cộng Hòa.
2 – Ông Ngô Duy Cầu, Hiệu Trưởng Tư Thục Văn Lang.
3 – Ông Trần Văn Hiếu. Vì ông có cái ve ở tai nên có tên là Hiếu Ve. Ông là em cùng cha, khác mẹ với ông Trần Văn Chương, ông là chú bà Trần Lệ Xuân. Ông Hiếu Ve ngụ trong Bin-đinh Cửu Long, đường Hai Bà Trưng, Sài Gòn. Ông quen thân với nhiều ký giả, văn nghệ sĩ. Ông sống với nghề “trinh dược viên,” tên tiếng Pháp là visiteur medical, chuyên viên đại diện  của một hay nhiều nhà bào chế Thuốc Tây, người đến những tiệm bán Thuốc Tây, và những phòng mạch bác sĩ, giới thiệu, cung cấp những thứ Thuốc Tây mới nhập vào Việt Nam. Ông sống độc thân.
Sau Tháng Tư 1975, ông Hiếu Ve nói với nhiều người ông không thể sống trong thành phố Sài Gòn đầy cờ đỏ và ảnh Già Hồ. Ông sẽ tự tử.
Sau Tháng Tư 1975, Sài Gòn có nhiều người nói sẽ tự tử, người Sài Gòn Hiếu Ve nói và làm. Một đêm ông lên sân thượng tòa nhà Cửu Long, ông nhẩy xuống.
Ba tháng sau Tháng Tư 1975, vợ chồng tôi về sống trong căn nhà nhỏ trong Cư Xá Tự Do, cư xá số 259 Đường Phạm Hồng Thái, Quận Tân Bình, Gia Định. Cách nhà tôi khoảng năm, sáu nhà là nhà một ông công chức đã về hưu. Ông chết trong đêm, ông chết êm, lặng. Ông ra đi cũng trong im lặng. Khoảng 10 giờ buổi sáng tôi đưa tiễn ông đến cổng cư xá. Quan tài ông để trong chiếc xe Lam Ba bánh. Bà vợ ông và cô con ông ngồi bên quan tài.
Vợ tôi nói:
– Ông ấy tự tử.
Người con trai và người con rể của ông công chức là sĩ quan, hai ông bị bắt đi tù khổ sai.
o O o
Khi đến nhà tôi bắt tôi đi tù lần thứ nhất – Tháng Bẩy năm 1976 – bọn Công An VC bắt được tập thơ của tôi. Trong tập có bài Chợ Trời. Anh Công An Huỳnh Bá Thành là người thẩm vấn tôi. Anh nói:
– Anh làm thơ gọi chúng tôi là bọn Ma, Mường. Nếu mấy chú đến bắt anh mỗi chú chỉ đấm anh một đấm thôi, giờ này anh nằm, anh không thể ngồi được.
Những năm tôi mười sáu, mười bẩy tôi, tôi có làm thơ. Hai mươi tuổi tôi không làm thơ nữa. Năm 1977 những ý tình uất kết trong tim tôi, tình ý kết tinh thành Thơ, đây là bài thơ thứ nhất tôi làm năm 1977:
Căn Nhà Không Có Mùa Xuân.
Ngày xưa xa lắm tôi còn trẻ
Chưa biết đau thương, biết nợ nần.
Đời chỉ có hoa và mật ngọt,
Da thịt thơm mùi phấn ái ân.

Tôi đã buồn vương, đã cảm thương
Lời thơ sầu muộn ý như sương.
Người yêu một tối rời nhân thế,
Thi sĩ đau mê chuyện đá vàng.

Đóng cửa nhà xưa, che gió nắng,
Đàn xưa để lặng, nhện tơ vương.
Năm mòn, tháng mỏi, thời gian vắng,
Trong căn nhà không có mùa xuân.

Ở giữa căn nhà u tịch ấy
Đời sống buồn trôi với tối tăm.
Cho đến một chiều nghe pháo nổ,
Người sống bừng cơn mộng cuối năm.

Cử đóng, màn che vội mở tung.
Bình hoa cắm vội một đôi bông.
Rồi rượu mừng xuân, rối pháo đỏ.
Sắp sẵn lòng vui để đợi trông.

Nhưng chờ đợi mãi xuân không đến,
Đới vẫn buồn tênh, vẫn tối tăm
Mới biết một khi Tình tuyệt mệnh
Căn nhà mình không có mùa xuân.

Năm nay mái tóc không xanh nữa,
Tôi đã đau thương, đã nợ nần.
Một sớm rùng minh, tôi bỗng thấy
Căn nhà tôi không có mùa xuân!

Sao nhà tôi không có mùa xuân?
Bạn ơi, người bạn mới qua đường.
Xin dừng chân lại cho tôi hỏi:
– Sao nhà tôi không có mùa Xuân?

o O o

Một số bài Phóng Dzao: Phóng tác Ca Dao.

* Ðèn Sàigòn ngọn xanh ngọn đỏ
Ðèn Mỹ Tho ngọn tỏ ngọn mờ
Công anh năm đợi bảy chờ
Thùng đồ em hứa bao giờ em cho ?

* Có con mà gả chồng gần
Nửa đêm đốt đuốc mang phần cho cha
Có con mà gả chồng xa
Tháng tháng nó gửi đô la kìn kìn.

* Ai về em gửi lá thơ
Hỏi người yêu cũ bây giờ ở mô ?
Người em yêu ở Thành Hồ
Còn thương thì liệu gửi đồ cho nhau

* Công cha như núi Thái Sơn
Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra
Bây giờ em đến Iu – Za
Gửi thùng cho nặng mới là đạo con

* Chợ Bến Thành dời đổi
Người sao khỏi hợp tan
Vợ chồng là nghĩa đá vàng
Gửi thùng cho lớn là chàng yêu em

* Rủ nhau xuống biển mò cua
Ðem về nấu quả mơ chua trên rừng
Ðôi ta chua ngọt đã từng
Nay em sang Mỹ xin đừng quên nhau

* Chiều chiều ra đứng bên đường
Buồn tình hỏi đại: Ới.. nàng áo hoa,
Áo hoa Made in USA.
Ai gửi cho bậu, hay là bậu mua?

* Mẹ ơi… đừng đánh con đau
Ðể con ra biển đón tầu mẹ chui.

* Một cây mười mấy ngàn đồng.
Em tôi chắt bóp cho chồng Em chui.
Chồng Em sang Xứ Chồn Lùi,
Nó lấy vợ khác, Em tôi mất chồng.

* Bà già đi chợ Cầu Bông
Bói xem sang Mỹ lấy chồng, lợi chăng?
Ông thầy gieo quẻ, nói rằng:
– Lợi thì có lợi nhưng năng ở tù.
Hoàng Hải Thủy

Biểu mẫu liên hệ

Tên

Email *

Thông báo *

Được tạo bởi Blogger.